Hiện trạng Văn hóa & Giáo dục Miền Nam Việt Nam
- Văn hóa khốn khổ: Lơ là, thiếu đường lối thống nhất, tác phẩm dâm tình tràn lan, sách thiếu nhi có nội dung tiêu cực. Người làm văn hóa chân chính bị lãng quên hoặc xem thường.
- Thiếu thống nhất: Các cơ quan Văn hóa, Giáo dục, Xã hội, Chính trị hoạt động rời rạc, mạnh ai nấy làm, gây lãng phí và mâu thuẫn.
- Văn hóa và Giáo dục: Văn hóa không có giáo dục là suông, giáo dục không có văn hóa là vô hồn. Cần sự liên kết chặt chẽ như ba chân vạc.
- Xã hội mất thăng bằng: Do tự do quá trớn, thiếu ý thức hệ rõ ràng, dẫn đến nguy cơ văn hóa nô dịch.
- Hòa hợp: Đạo học và khoa học không thể tách rời; cá nhân và xã hội cần được tái lập quân bình.
Đặt lại những Vấn đề Căn bản của Văn hóa, Giáo dục và Xã hội Ngày nay
- Hiện trạng tan rã: Xã hội tràn ngập bất công, dẫn đến chủ thuyết “giai cấp đấu tranh”.
- Quan niệm sai lầm về Bình đẳng và Tự do:
- Bình đẳng: Là danh từ mù mờ, bị khai thác cực đoan, gây chia rẽ. Con người bản tính luôn muốn vươn lên, không chấp nhận bình đẳng tuyệt đối.
- “Chỉ có đồng đẳng mới bình đẳng”: Đây là luật tự nhiên, con người sinh ra đã khác biệt về trí tuệ, thể chất, tài năng (bất bình đẳng tự nhiên). Điều này là yếu tố cần thiết cho sự tiến bộ.
- Bình đẳng kinh tế và san bằng: Chủ nghĩa Mác-xít đòi san bằng tài sản, ưu đãi kẻ bất tài, gây ảo vọng và tai họa.
- Bình đẳng trước pháp luật: Áp dụng một luật chung cho tất cả là độc tài và tàn nhẫn, không xét đến sự khác biệt.
- Ảo vọng tiêu diệt đối phương: Các cặp mâu thuẫn (trai/gái, cá nhân/xã hội, Âm/Dương) nương nhau mà tồn tại, không thể thủ tiêu một bên. Cần “hợp nhất, không thì tận diệt” (Einstein).
- Giải pháp: Thay “bình đẳng” bằng “điều hòa” (harmonie) – điều hòa các phần tử bất bình đẳng trong một nhịp điệu chung. Cần thực hiện nguyên tắc PHÂN CÔNG và HỢP TÁC trong xã hội như “cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”.
- Tổ chức xã hội: Cần như một “cơ thể sống”, các bộ phận tuy khác biệt nhưng liên quan mật thiết. Không được cản trở tự do cá nhân, đồng thời cá nhân không được làm hại sự điều hòa của xã hội.
- Tự do cá nhân: Phải đặt hàng đầu, tránh tập trung quốc quyền. Cần đào tạo con người Việt Nam có “nhân bản vũ trụ hóa”, cởi mở, bao hàm vũ trụ, không thu rút trong phạm vi nhỏ hẹp.
- Quốc tế hóa: Là xu hướng tất yếu của thế kỷ, không vấn đề nào có thể giải quyết đơn phương.
Tình trạng Bi đát hiện thời của một Xã hội và Nền Văn hóa và Giáo dục bị phá sản
- Văn hóa “đại chúng”: Bị ảnh hưởng nặng nề bởi chủ thuyết “giai cấp đấu tranh”, tạo ra văn hóa hận thù, phiến diện.
- “Đợt sóng mới” của thanh niên: Sống buông thả, bất cần, phủ nhận quá khứ và các giá trị cổ truyền, biện hộ bằng triết lý hiện sinh chưa được tiêu hóa. Điều này cũng lan tràn trong giới người đứng tuổi.
- Đạo khoái lạc: Thịnh hành do thiếu kỷ cương, dẫn đến văn nghệ hắc ám, khiêu dâm, làm sa đọa xã hội.
- Tranh chấp thế hệ: Thanh niên khinh thường người lớn, thầy cô, tạo ra phong trào “huyền thoại của người lớn” nhằm giảm uy tín bề trên.
- Lĩnh vực Giáo dục: Học sinh lố lăng, bỏ học. Giáo sư chiều theo thị hiếu. Hệ thống giáo dục “nhồi sọ”, chỉ chú trọng bằng cấp hữu danh vô thực, gây ra “những bầy thú dữ trước bảng đen”.
Trao đổi Văn hóa
- Chấn hưng tinh thần Á Châu: Việt Nam cần ý thức tiềm lực tinh thần và vai trò của mình trong văn hóa chung Á Châu, hòa hợp Đạo học Đông phương với Khoa học Tây phương.
- Xây dựng ý thức hệ dân tộc: Vừa truyền thống, vừa phổ biến đại đồng, vừa tiến bộ khoa học.
- Hợp nhất Đông và Tây: Là nền tảng sự thuần nhất của nhân loại, là vấn đề sinh tử của thời đại. Đông phương cần học Tây phương để hiểu mình hơn, và ngược lại.
- Nghiên cứu văn hóa: Cần tinh thần khách quan, vô tư vì Chân Lý, Tình Thương và Dung Thứ, không dùng văn hóa làm phương tiện chính trị.
- Chống độc tôn: Tranh chấp không do khác biệt mà do lòng tự tôn, độc tôn của mỗi quốc gia, dân tộc. Không nên mong “thống nhất” hay “san bằng nhất luật” về văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế.
- Trao đổi đặc thù: Mỗi dân tộc cần đóng góp cái đặc thù của mình. Sứ mạng của Á Châu là Tình Yêu và Chân Thật (Gandhi).
Những Hoạt động Văn hóa Căn bản Cần thiết nhất
- Thống nhất và điển chế văn tự: Phiên dịch các tác phẩm Đông phương sang tiếng Việt, và sách Đông – Tây để trao đổi quốc tế.
- Nghiên cứu và sáng tác: Áp dụng phương pháp khoa học khách quan, phê bình lịch sử, đối chiếu văn hóa để tìm ra bản sắc dân tộc.
- Xây dựng nền tảng: Hoàn tất bộ Việt Nam Văn hóa Sử, Văn học Sử, Quốc Sử và Từ điển Việt Nam.
- Tránh lối nghiên cứu Mác-xít: Lấy chủ thuyết “giai cấp đấu tranh” làm tiêu chuẩn là sai lầm.
- Thẩm định lại giá trị: Giữ gìn giá trị vĩnh cửu, canh tân cái tạm thời để dân tộc không lỗi nhịp với đà tiến hóa chung.
- Viện Văn hóa: Là trung tâm dẫn lực, quy tụ trí thức, thiết lập thư viện Trung ương.
- Văn hóa Việt Nam: Cần có tính cách “đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự” (thống nhất trong đa dạng), là sự “hợp nhất” chứ không phải “tập trung” hay “văn hóa chỉ huy”. Như hệ Thái dương, các hành tinh tự do nhưng xoay quanh trung tâm.
Đường lối Giáo dục Ngày nay Phải như thế nào?
- Cá nhân hóa giáo dục và xã hội hóa cá nhân: Phát triển tự do khả năng đặc biệt của mỗi cá nhân, đồng thời hướng họ vào việc cộng đồng hợp tác, tránh chia rẽ.
- Giáo dục toàn diện: Đức dục, trí dục và thể dục phải liên quan mật thiết.
- Giáo dục là giải thoát: Trí não khỏi vô minh (Trí dục), tâm hồn khỏi dục vọng ích kỷ (Đức dục). Dạy tự lập, nhận trách nhiệm, “trách kỷ không trách nhân”.
- Chế độ thi cử: Hiện tại chỉ chọn người giàu trí nhớ, thụ động, phung phí nhân tài.
- Dân khí tạo chế độ: Chế độ chính trị là do dân khí tạo ra. Nâng cao dân khí là nhiệm vụ tối quan trọng của Giáo dục. Giáo dục là “công trình tập sự để đi đến tự do”.
- Nội dung giáo dục: Dạy vâng lời để biết chỉ huy, biết phán đoán, phê bình, nhận lãnh trách nhiệm. Không nhồi sọ mà dạy đoàn kết, hy sinh, trọng kỷ luật, ham tự do, biết sống tập đoàn và phân công cộng tác. Trường học là nơi học cách trở thành con người độc đáo và sống chung với đồng loại.
- Xã hội hóa giáo dục: Tổ chức học tập thể theo nhóm, phân công hợp tác. Phương pháp “học thầy không tày học bạn” giúp điều hòa Đức dục và Trí dục.
- Tinh thần thể thao: Rèn luyện thân thể, đồng thời dạy tôn trọng quy luật, liêm sỉ, chấp nhận thất bại quân tử, không gian lận. Quan trọng nhất là dung hòa tài năng cá nhân với lợi ích đoàn thể.
- Đức dục là nền tảng: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Kỷ luật không phải để nô lệ mà để giải phóng con người, là sự tự trị, tự thắng. Cần để học sinh tự lập ban kỷ luật và nội quy.
- Luân lý đạo đức: Không chỉ là lý thuyết suông mà phải là “tri hành hợp nhất” trong đời sống thực tế.
- Liên kết giáo dục: Cần sự liên tục giữa gia đình, học đường và xã hội. Gia đình là nền tảng, học đường là sự mở rộng của gia đình.
- Cân bằng “lượng” và “phẩm”: Giáo dục ngày nay quá chú trọng số lượng (trường, học sinh) mà quên đi chất lượng văn hóa, khiến văn bằng chỉ có “lượng” mà thiếu “phẩm”.
Tạm Kết Luận
- Nhà trường: Phải là nơi dung hòa vấn đề cá nhân và xã hội, nơi mỗi cá nhân được sống tự do mà không xâm phạm tự do người khác.
- Nguyên tắc giáo dục chân chính:
- Trẻ em được sống và phát triển tự do, đầy đủ, hạnh phúc.
- Trẻ em có quyền và phương tiện học hỏi, hiểu biết những gì cần thiết cho đời sống.
- Phát triển xã hội phụ thuộc vào sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân.
- Hạnh phúc chung đòi hỏi tinh thần xã hội cộng đồng, ý thức về sự liên quan mật thiết giữa con người. Lợi riêng hại chung là trọng tội. “Trước khi ta là người Việt Nam… ta phải là NGƯỜI”.
- Hòa hợp Đông - Tây: Hai khối văn minh Đông và Tây là hai bộ phận của “khối óc chung Nhân loại”, cần hợp nhất và phát triển lành mạnh (Romain Rolland).
- Chống kỳ thị và thù hận: Giáo dục phải xóa bỏ mọi chia rẽ về màu da, dân tộc, tôn giáo, đảng phái.
- Tôn giáo: Phải là hòa hợp, tình thương, không bị tham vọng chính trị biến thành công cụ tranh quyền.
- Xét lại giá trị: Giữ luật HẰNG và hòa với luật CHUYỂN, tức là cân bằng giữa Dân tộc và Khai phóng.
- Văn hóa và Giáo dục: Không chia phân. Giáo dục là văn hóa áp dụng nơi nhà trường, xã hội là văn hóa áp dụng nơi đại chúng. Cần thay đổi từ bản thân trước.
- Mục tiêu cuối cùng: Giúp con người thành NGƯỜI, không phải thần thánh. Tình trạng bi đát là cơ hội để “biến” và “thông” (Hermann de Keyserling).
Sài thành, ngày 01 – 07 – 1960