Vấn Đề Quốc Học
“Vấn Đề Quốc Học” của Giáo sư Kim Định là một công trình triết học sâu sắc, mổ xẻ về nền quốc học và triết lý của Việt Nam. Kim Định khẳng định Việt Nam có một nền triết học riêng biệt, gọi là Việt Nho hay An Vi, khác biệt và thậm chí ưu việt so với triết học phương Tây và Ấn Độ ở khả năng dung hòa cá nhân và xã hội.
Lời Nói Đầu
- Giới thiệu GS. Kim Định và học thuyết An Vi (Việt Nho).
- Phương pháp “tố nguyên” (đi ngược về cội nguồn) và “huyền sử” để tìm về bản sắc Lạc Việt.
I. Chung Quanh Vấn Đề Quốc Học
- Việt Nam có quốc học hay không? Tác giả tổng hợp hai luồng ý kiến và khẳng định cần xây dựng triết học và văn hiến để có quốc học hoàn bị.
- Tầm quan trọng của Triết học: Cần thiết để xác định dân tộc tính và tạo nên một nền văn hóa vững mạnh.
- Tầm quan trọng của Văn hiến: Đảm bảo học vấn có hồn, có khả năng cải hóa con người.
Phụ chú bài I: Triết học chỉ là để tranh luận
- Đối lập triết học phương Tây (“to see” – để xem) và phương Đông (“to be” – để thành). Triết Tây bị phê phán vì quá lý thuyết, xa rời thực tế.
II. Triết Lý với Quốc Học
- Triết học là “xi-măng” tinh thần: Kết nối và thống nhất các lĩnh vực học vấn.
- Hai hướng của “triệt” (tìm hiểu tận cùng):
- Triệt thượng: Gồm 4 yếu tố: Dụng (thành công/thành nhân), Từ (văn chương), Ý (tư tưởng), và Cơ (cơ cấu uyên nguyên, hồn thiêng). Cơ là yếu tố quan trọng nhất, làm nên bản sắc văn hóa Việt Nho với đặc tính trời đất giao thoa.
- Triết Việt được đánh giá là biến cải được cả thân tâm và xã hội, trong khi Triết Ấn chỉ biến cải thân tâm, còn Triết Tây thì cả hai đều “0” (quá chú trọng khoa học kỹ thuật chứ không phải nhân văn).
- Triệt hạ: “Ở đời” (Etre-au-monde) – nét đặc trưng của triết lý Nho Việt, khác với triết Âu (“ở trời”) và triết Ấn (“trốn đời”). “Ở đời” là hòa hợp triết lý vào cuộc sống trần thế.
III. Những Đức Tính Dân Tộc
- 1. Bàn về dân tộc có lỗi thời chăng? Khẳng định dân tộc tính vẫn thiết yếu, phê phán “tình yêu nhân loại trừu tượng” mà bỏ qua lân nhân cụ thể.
- 2. Sao không mới mà lại cũ? Việc quay về quá khứ là cần thiết để đào sâu nhân tính và hiểu rõ điều kiện thời không. Triết Việt dựa trên Dịch lý để thích nghi.
- 3. Những điều kiện quy định một dân tộc tính: Dân tộc tính phải đạt tới “Đức” (linh lực trường tồn, phổ biến) và có trường cửu tính cùng đặc thù tính. Ví dụ: Ca dao là một dân tộc tính của Việt Nam vì được chính thức thâu nạp và tôn trọng.
Phụ chú bài II: Tại sao triết bị khinh?
- Nietzsche phê phán triết học hàn lâm Tây Âu xa rời đời sống thực, không đào tạo được những triết gia vĩ đại.
IV. Vấn Đề Nguồn Gốc và Việt Nho
- 1. Tình trạng vấn đề: Đề xuất Việt Nam là chủ chính của Nho giáo (Viêm Việt), còn Trung Quốc chỉ là người tiếp nhận và biến đổi (Hán Nho). Dẫn chứng bằng tính dân chủ trong xã thôn Việt Nam và vai trò phụ nữ trong huyền sử.
- 2. Những nét khó khăn hai phía tân – cựu chưa giải đáp ổn thỏa: Phê phán Tân học (đề cao ảnh hưởng Chàm) là hời hợt, làm văn hóa Việt “vô chủ”. Phê phán Cựu học (cho Việt Nam là học trò của Tàu) là không giải thích được sự vượt trội của Việt Nam ở những điểm cốt lõi.
- 3. Việt Nho: Giả thuyết Nho giáo do tiên tổ Viêm Việt sáng lập, sau đó người Tàu hoàn bị và làm sa đọa. Điều này giải thích tại sao người Việt chống Tàu nhưng vẫn chấp nhận Nho giáo (vì đó là di sản của mình).
- 4. Tam giác ngữ: Đề xuất hệ thống ba ngôn ngữ cho giáo dục Việt Nam: Nho (đại diện cho Thiên, tính tổng hợp, linh tự), Quốc ngữ Việt (đại diện cho Địa, tính xác định, linh ngữ), và Anh/Pháp (để học hỏi và tổng hợp). Đây là con đường để có nền quốc học hoàn bị.
V. Nết Xấu Của Dân Tộc
- Những nết xấu như gian vặt, cẩu thả, và thiếu lòng chung không do bản chất mà do hoàn cảnh lịch sử (bị đô hộ, chiến tranh) của một quốc gia nhỏ yếu. Cần giáo dục để khắc phục.
VI. Sự Hình Thành Nền Quốc Học Xuyên Qua Các Đời
- Chia lịch sử văn hóa thành các giai đoạn:
- Thời kỳ Manh nha: Hình thành “chí” (Dịch lý) và “tình” (văn minh nông nghiệp).
- Giai đoạn 2: Hoàng Đế (văn minh du mục) đem “ý” vào, Việt Nho tránh được ý hệ duy lý.
- Giai đoạn 3: Hán Nho chiếm ưu thế, Việt Nho bị lịm đi.
- Giai đoạn 4 (Đời Lê): Việt Nho trỗi dậy nhưng vẫn thiếu triết gia thực thụ (“triết gia hụt”).
- Giai đoạn 5 (Tương lai): Cần nền triết lý nhân sinh kết hợp ý Tây phương và cơ cấu Việt Nho. Dân chúng (đặc biệt miền Nam) vẫn còn giữ được tinh thần Việt Nho.
VII. Vấn Đề Văn Hiến
- Văn hiến (những người hiến thân cho văn hóa) là nét đặc trưng của Việt Nho, hiện thực hóa lý tưởng “triết vương” của Platon. Cần khôi phục địa vị triết trong quốc học, không chỉ giới hàn lâm.
- Ai sẽ hiện thực quốc học? Nhân dân là gốc, chính quyền là tay chân. Cần làm chủ dư luận, tổ chức “trận tuyến văn hóa” dựa trên lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.
- Trí, Nhân, Dũng là phẩm chất cần thiết để kiến thiết.
Kết
- Sứ mạng Tây phương là khoa học kỹ thuật, Đông phương là Minh triết (triết lý Nhân sinh). Việt Nam (Giao Chỉ) có vai trò cân bằng giữa Thiên (tâm linh) và Địa (văn minh cơ khí).
- Nhiệm vụ cấp thiết của quốc học là làm cho triết học trở lại với đạo học.
Phụ trương I: Cần vận động cho một nền giáo dục lưỡng diện
- Phê phán giáo dục hiện đại một chiều, dẫn đến “con người nhất diện”.
- Việt Nam có sứ mệnh xây dựng giáo dục lưỡng diện (thành công và thành nhân), tập trung vào đại học và triết lý nhân sinh dựa trên lưỡng nhất tính của Việt Nho.
Phụ trương II: Sứ mạng hiện nay của người trí thức các tôn giáo
- Sứ mạng: Đức Tương Dung (hòa đồng chân thực), vượt lên trên sự chịu đựng hay quân bình lực lượng tạm thời.
- Phê phán sự chia rẽ trong đa tôn giáo Việt Nam và thế giới. Giải pháp là quay về nguồn gốc chân thực của mỗi tôn giáo (yêu thương, từ bi, bác ái).
- Cần một triết lý nhân bản làm nền móng chung cho mọi người dân, phục hoạt tinh hoa của Việt Nho để có Tương Dung chân thực và góp phần định hướng nhân loại.