THIỀN SƯ TRUNG HOA TẬP MỘT
LỜI DẪN ĐẦU
Cuốn sách “Thiền sư Trung Hoa Tập Một” được góp dịch từ ba bộ sách lớn: “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, “Chỉ Nguyệt Lục” và “Cao Tăng Truyện”. Tập này tập hợp hành trạng và lời dạy của các Thiền sư từ đời thứ nhất sau Lục Tổ Huệ Năng đến đời thứ tư, giai đoạn trước khi Thiền tông chia thành nhiều tông phái. Sách nhấn mạnh rằng Thiền sư thường dùng những hành động lạ thường, ngôn ngữ bí hiểm để người tham vấn tự thể hội, chứ không giảng giải trực tiếp. Mục đích của Thiền tông là giúp người tu nhận được bản tâm, thấy được bản tánh, tin rằng “tâm tức là Phật” và “tánh mình đầy đủ tất cả, xưa nay vẫn thanh tịnh”.
Các Thiền sư thường dùng những phương tiện “trái đạo” trong mắt phàm phu như Đơn Hà thiêu tượng Phật, Nam Tuyền chém mèo, Hoàng Bá đánh Lâm Tế để phá chấp, giúp học trò trực nhận chân lý. Chân tâm là chỗ bặt suy nghĩ, càng suy nghĩ càng xa. Nó hiển lộ trong mọi hành động bình thường, và chỉ cần trực nhận thì sẽ thấy. Người tu Thiền phải dẹp sạch bản ngã, cả phàm tình lẫn thánh giải, để tâm không còn dính mắc vào bất cứ quả vị hay khái niệm nào. Mục tiêu là đạt đến trạng thái “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” – không trụ vào đâu mà sinh ra tâm.
ĐỜI THỨ NHẤT: MÔN ĐỆ LỤC TỔ HUỆ NĂNG
Thiền sư Hành Tư (Thanh Nguyên)
- Thời gian: (? - 740)
- Là một trong những đệ tử hàng đầu của Lục Tổ. Sau khi được ấn chứng, Sư về trụ trì chùa Tịnh Cư ở núi Thanh Nguyên.
- Đối đáp với Lục Tổ: Hỏi “Phải làm việc gì khỏi rơi vào giai cấp?” Lục Tổ hỏi lại “Ngươi từng làm việc gì?” Sư đáp “Thánh đế cũng chẳng làm.” Lục Tổ lại hỏi “Vậy rơi vào giai cấp nào?” Sư đáp “Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp.” Lục Tổ ngầm ấn khả.
- Giáo hóa Hy Thiên: Thường dùng những lời đối đáp trực tiếp, khai thị cho Hy Thiên về chân lý không mất, vượt ngoài đối đãi.
Thiền sư Hoài Nhượng (Nam Nhạc)
- Thời gian: (677 - 744)
- Một trong hai đệ tử xuất sắc nhất của Lục Tổ, là tổ sư của phái Nam Nhạc.
- Đối đáp với Lục Tổ: Khi Lục Tổ hỏi “Vật gì đến?” Sư đáp “Nói in tuồng một vật tức không trúng.” Lục Tổ khen ngợi và ấn chứng, nói về lời sấm “Nhất Mã Câu” (Mã Tổ Đạo Nhất) sẽ xuất hiện dưới chân Sư.
- “Mài gạch làm gương” với Mã Tổ: Thấy Đạo Nhất ngồi thiền, Sư hỏi “Ngồi thiền để làm gì?” Đạo Nhất đáp “Để làm Phật.” Sư bèn mài gạch trước am, nói “Mài gạch đâu có thể thành gương được?” Đạo Nhất đáp “Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?” Từ đó, Sư khai thị cho Đạo Nhất về “đất tâm” và “Vô tướng tam-muội”.
Thiền sư Huyền Giác (Vĩnh Gia)
- Thời gian: (665 - 713)
- Tu tập Chỉ Quán và phát minh tâm địa qua kinh Duy-ma. Được mệnh danh là “Nhất Túc Giác” (một đêm giác ngộ) sau khi được Lục Tổ ấn chứng.
- Đối đáp với Lục Tổ: Dù Sư không đủ oai nghi khi đến, nhưng đối đáp về “sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh” và “thể tức vô sanh, liễu vốn không mau” đã được Lục Tổ khen ngợi.
Thiền sư Bản Tịch
- Thời gian: (? - 761)
- Được Lục Tổ truyền tâm, sau về núi Tư Không.
- Giáo hóa Dương Quang Đình: Khi được hỏi về Phật và Đạo, Sư đáp “Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội Đạo, không tâm là Đạo.” Ông cũng giải thích “Tâm vốn không tên, nhân tâm có đạo. Tâm và tên nếu có thì đạo không rỗng suốt. Tột tâm đã không thì đạo nương đâu mà lập? Cả hai đều là giả danh.”
Quốc sư Huệ Trung
- Thời gian: (? - 772)
- Đệ tử được ấn chứng của Lục Tổ, là thầy của vua Đường Túc Tông.
- Thử thách Đại Nhĩ Tam Tạng: Một lần, Sư đã làm cho vị Tam Tạng có tha tâm thông không thể biết được ý nghĩ của mình, qua ba lần hỏi “Lão tăng đang ở chỗ nào?”.
- Đối đáp với vua Túc Tông: Khi vua hỏi “Thầy được pháp gì?” Sư đáp “Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng?” Vua đáp “Thấy.” Sư hỏi “Nó do đóng đinh mắc hay cột dây mắc?” ngụ ý không dính mắc.
Thiền sư Thần Hội (Hà Trạch)
- Thời gian: (668 - 760)
- Một trong những đệ tử xuất chúng của Lục Tổ, người đã công khai xác lập vị trí của Thiền Đốn Ngộ ở phương Nam.
- Đối đáp với Lục Tổ: Khi Sư hỏi “Giới định tuệ dùng như thế nào?”, Lục Tổ đã giải thích sâu sắc về mối quan hệ giữa chúng và bản tâm.
ĐỜI THỨ HAI SAU LỤC TỔ
Thiền sư Hy Thiên (Thạch Đầu)
- Thời gian: (695 - 785)
- Đệ tử đắc pháp của Hành Tư. Nổi tiếng với việc trụ trì trên gộp đá (Thạch Đầu) và tác phẩm “Đồng Tham Khế”.
- Giáo hóa: Sư dạy “Pháp môn của ta do Phật trước truyền trao, không luận thiền định tinh tấn, chỉ đạt Tri kiến Phật, tức tâm tức Phật.”
- Koan “Ai trói ngươi?”: Khi được hỏi “Thế nào là giải thoát?” Sư đáp “Ai trói ngươi?” Hỏi “Thế nào là Tịnh độ?” Sư đáp “Cái gì làm nhơ ngươi?” Hỏi “Thế nào là Niết-bàn?” Sư đáp “Ai đem sanh tử cho ngươi?”
Thiền sư Đạo Nhất (Mã Tổ)
- Thời gian: (709 - 788)
- Đệ tử đắc pháp của Hoài Nhượng, là một trong những Thiền sư vĩ đại nhất, người đã khai sáng tông phái Hồng Châu.
- Giác ngộ: Nhờ Hoài Nhượng mài gạch làm gương.
- Giáo hóa: Thường nói “tức tâm tức Phật” hoặc “phi tâm phi Phật” tùy căn cơ.
- Koan “Kho báu nhà mình”: Khai thị cho Huệ Hải rằng chính cái đang hỏi là kho báu đầy đủ, không cần tìm cầu bên ngoài.
- Koan “Kéo mũi Bá Trượng”: Khi Bá Trượng nói “bay qua”, Mã Tổ kéo mũi Bá Trượng khiến Sư la đau, để Sư trực nhận sự hiện hữu của tự tánh.
ĐỜI THỨ BA SAU LỤC TỔ - PHÁI HÀNH TƯ
Thiền sư Duy Nghiễm (Dược Sơn)
- Thời gian: (751 - 834)
- Đệ tử của Hy Thiên và Mã Tổ. Ban đầu học kinh luật, sau chuyển sang Thiền. Khi hỏi Thạch Đầu, Sư nhận thấy mình như “con muỗi đậu trên trâu sắt”.
- Koan “Cây khô cây tươi”: Khi Dược Sơn hỏi Đạo Ngô và Vân Nham “khô là phải hay tươi là phải?” với hai cây trên núi, cả hai đều có cách nhìn riêng. Sau đó, một Sa-di đáp “Khô là từ nơi khác mà khô, tươi là từ nơi khác mà tươi.”
Thiền sư Thiên Nhiên (Đơn Hà)
- Thời gian: (738 - 824)
- Ban đầu học Nho, sau chuyển sang Thiền. Được Mã Tổ ấn chứng pháp hiệu “Thiên Nhiên”.
- Hành động nổi tiếng: “Thiêu tượng Phật gỗ” để lấy xá-lợi, khiến Viện chủ Hướng tỉnh ngộ rằng Phật gỗ không có xá-lợi, phá chấp vào hình tướng.
Thiền sư Đạo Ngộ (Thiên Hoàng Tự)
- Thời gian: (747 - 806)
- Đệ tử của Mã Tổ và Thạch Đầu. Nổi tiếng với việc được ấn chứng bởi Thạch Đầu qua câu “Thân ngươi hiện tại”.
- Koan “Cầm gối ném xuống”: Khi học trò không hiểu, Sư cầm gối ném xuống đất rồi thị tịch, ngụ ý chân lý ở ngay đó, không cần lời nói.
Thiền sư Bảo Thông (Đại Điên)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Thạch Đầu. Ngộ đạo khi được Thạch Đầu khai thị “trừ bỏ nhướng mày chớp mắt, đem tâm lại!” và “Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm trọn đồng với không.”
- Giáo hóa Hàn Văn Công: Khi Hàn Văn Công hỏi tuổi, Sư cầm xâu chuỗi giở lên nói “Ngày đêm trăm lẻ tám”. Sau đó, khi được hỏi ý nghĩa, Sư và Thủ tọa đều vỗ răng ba cái, hàm ý chân lý vượt ngoài ngôn ngữ.
ĐỜI THỨ BA SAU LỤC TỔ - PHÁI HOÀI NHƯỢNG
Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)
- Thời gian: (724 - 814)
- Đệ tử xuất sắc của Mã Tổ. Là người sáng lập quy tắc Thiền môn “Bá Trượng Thanh Qui” với câu nổi tiếng “một ngày không làm, một ngày không ăn”.
- Giác ngộ: Bị Mã Tổ kéo mũi đau thấu xương, Sư hoát nhiên tỉnh ngộ.
- Koan “Đại trùng dưới núi Đại Hùng”: Khi Bá Trượng hỏi Sư có thấy đại trùng (cọp) không, Sư liền làm tiếng cọp rống, Mã Tổ cầm búa thủ thế, Sư vỗ chân Mã Tổ một cái. Mã Tổ khen ngợi.
Thiền sư Phổ Nguyện (Nam Tuyền)
- Thời gian: (749 - 834)
- Đệ tử đắc pháp của Mã Tổ, nổi tiếng với câu “tâm bình thường là đạo”.
- Koan “Chém mèo”: Để phá chấp của chúng Tăng về nhị biên, Sư đã chém chết một con mèo, sau đó nói “Giá khi nãy có ngươi thì đã cứu được con mèo” khi Tùng Thẩm trở về và làm hành động đội giày lên đầu.
- Koan “Làm con trâu dưới núi”: Sắp thị tịch, Sư nói mình sẽ làm con trâu dưới núi, và hỏi chúng Tăng nên gọi là Thiền sư hay con trâu, ngụ ý vượt ngoài mọi đối đãi.
Thiền sư Huệ Hải (Đại Châu)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Mã Tổ, người đã tự nhận bản tâm nhờ Mã Tổ chỉ dạy “Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi”. Tác phẩm nổi tiếng “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận”.
- Giáo hóa: Sư thường nói “Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể chỉ dạy người”, nhưng lại biện tài vô ngại khi được hỏi.
Thiền sư Ẩn Phong (Đặng Ẩn Phong)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Mã Tổ, được ấn chứng sau khi bị Mã Tổ “đẩy xe cán chân”.
- Hành động kỳ lạ: Từng bay qua khe suối để chứng tỏ việc “tự biết” và không phụ thuộc người khác. Sau đó, thị tịch trong tư thế lộn ngược.
Thiền sư Huệ Tạng (Thạch Củng)
- Thời gian: Không rõ
- Ban đầu là thợ săn, sau khi gặp Mã Tổ và được khai thị “chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt”, Sư liền xuất gia.
- Koan “Chăn trâu”: Mã Tổ hỏi “Làm sao chăn?” Sư đáp “Một khi vào cỏ, bèn nắm mũi kéo lại.”
Thiền sư Trí Tạng (Tây Đường)
- Thời gian: (735 - 814)
- Đệ tử của Mã Tổ, được ấn ký cùng Bá Trượng. Được Mã Tổ sai đến Trường An dâng thơ cho Quốc sư Huệ Trung.
- Đối đáp với Quốc sư Huệ Trung: Sư đi từ Đông sang Tây, rồi từ Tây sang Đông, Quốc sư hỏi “chỉ cái ấy hay còn gì khác?” Sư đáp “Đã trình tương tự với Hòa thượng.” Quốc sư khen đó là “của Mã sư”.
- Koan “Gốc trống động”: Khi Lý Tường hỏi “Mã Tổ có dạy pháp gì?” Sư gọi “Lý Tường!” Lý Tường đáp “Dạ.” Sư bảo “Gốc trống động.”
Thiền sư Trí Thường (Qui Tông)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Mã Tổ. Nổi tiếng với hành động đánh Đạo Ngu khi được hỏi về ngũ vị thiền, ngụ ý chân lý trực tiếp không cần lời giải thích.
- Koan “Bụi rau”: Sư vẽ một vòng tròn quanh bụi rau và cấm chúng Tăng động vào, sau đó lại la mắng vì chúng không ai dám động, ngụ ý phá chấp.
Thiền sư Pháp Thường (Đại Mai)
- Thời gian: (752 - 839)
- Đệ tử của Mã Tổ, ngộ đạo khi được Mã Tổ nói “tức tâm là Phật”.
- Koan “Trái Mai đã chín”: Khi Mã Tổ nghe tin Sư ẩn cư ở núi Đại Mai, Sư lại nói “Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết “tức tâm là Phật””, khiến Mã Tổ nói “Đại chúng! trái Mai đã chín.”
Thiền sư Vô Nghiệp
- Thời gian: (760 - 821)
- Đệ tử của Mã Tổ, được ấn chứng sau câu hỏi “Là cái gì?” khi Sư quay đầu lại theo tiếng gọi của Mã Tổ.
- Giáo hóa: Thường nói “chớ vọng tưởng” và nhấn mạnh sự ẩn cư, không tham danh lợi.
Thiền sư Đạo Ngộ (Thiên Vương Tự)
- Thời gian: (716 - 808)
- Đệ tử của Mã Tổ, ngộ đạo khi được Mã Tổ khai thị “Nhận biết tâm mình xưa nay là Phật”.
- Hành động đặc biệt: Bị Tiết sứ họ Lư ném xuống sông nhưng y phục không ướt, khiến ông Tiết sứ kính phục và xây chùa Thiên Vương.
Thiền sư Linh Mặc
- Thời gian: (747 - 818)
- Đệ tử của Mã Tổ, sau đó đến Thạch Đầu và ngộ đạo nhờ câu “Từ sanh đến tử chỉ là cái ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?”
- Koan “Vật gì lớn trùm trời đất?”: Sư đáp “Không người biết được y.”
Thiền sư Duy Khoan
- Thời gian: (755 - 817)
- Đệ tử của Mã Tổ. Sau trụ trì chùa Thiếu Lâm.
- Koan “Chó có Phật tánh không?”: Sư đáp “Có.” Khi được hỏi “Hòa thượng có chăng?” Sư đáp “Ta không.” Rồi giải thích rằng chân lý không thể nghĩ bàn, không thuộc biết hay không biết.
Thiền sư Như Hội
- Thời gian: (742 - 821)
- Đệ tử của Mã Tổ. Trụ trì chùa Đông Tự, nổi tiếng với việc chúng Tăng quá đông đến nỗi “giường chõng gãy vẹo”.
- Phá chấp “tức tâm tức Phật”: Sư dạy “Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo” để phá chấp của môn đồ Mã Tổ, ngụ ý không nên cố chấp vào ngôn ngữ.
Thiền sư Bảo Triệt (Ma Cốc)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Mã Tổ.
- Koan “Đại Niết-bàn”: Khi được hỏi “Thế nào là Đại Niết-bàn?” Mã Tổ đáp “Gấp!” Sư hỏi “Gấp cái gì?” Mã Tổ đáp “Xem nước.”
- Koan “Bà già dâng trà”: Cùng Nam Tuyền và Qui Tông gặp bà già hỏi có thần thông thì uống trà, khi cả ba im lặng, bà già tự dâng trà, ngụ ý trực nhận.
Thiền sư Tề An
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Mã Tổ. Trụ trì viện Hải Xướng, còn gọi là hội Diêm Quan.
- Koan “Phật Lô-xá-na”: Khi được hỏi về bản thân Phật Lô-xá-na, Sư bảo “Đem cái bình đồng kia đến cho ta.”, sau đó lại bảo “Đem để lại chỗ cũ”, và nói “Phật xưa đã quá khứ lâu rồi”, ngụ ý Phật không ở hình tướng.
Cư sĩ Long Ẩn
- Thời gian: Không rõ
- Cư sĩ đắc đạo, đệ tử của Thạch Đầu và Mã Tổ. Nổi tiếng với việc từ bỏ của cải, sống ẩn dật cùng con gái Linh Chiếu.
- Koan “Hút hết nước Giang Tây”: Khi hỏi Mã Tổ “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Mã Tổ đáp “Đợi miệng ông hút hết nước Giang Tây, ta sẽ nói với ông.” Ông liền ngộ.
ĐỜI THỨ TƯ SAU LỤC TỔ - PHÁI HÀNH TƯ
Thiền sư Đàm Thạnh (Vân Nham)
- Thời gian: (782 - 841)
- Đệ tử của Dược Sơn. Ban đầu theo Bá Trượng Hoài Hải 20 năm mà chưa ngộ, sau đến Dược Sơn và giác ngộ qua koan “ấy là gì?” của Bá Trượng.
- Koan “Đại Bi ngàn tay mắt”: Khi Đạo Ngô hỏi “mắt nào là mắt chánh?” Sư đáp “Như người ban đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.”
Thiền sư Viên Trí (Đạo Ngô)
- Thời gian: (768 - 835)
- Đệ tử của Dược Sơn.
- Koan “Trí chẳng nghĩ đến”: Dược Sơn nói “Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu-đà hiểu thế nào?” Sư liền đi ra, ngụ ý không rơi vào tư duy, ngôn ngữ.
Thiền sư Đức Thành (Hoa Đình Thuyền Tử)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Dược Sơn, sau sống trên một chiếc thuyền nhỏ ở bến Hoa Đình, tùy duyên tiếp độ chúng sanh.
- Giáo hóa Thiện Hội: Sư đánh Thiện Hội ngã xuống nước khi Sư mở miệng nói về đạo, giúp Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.
Sa-di Cao
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Dược Sơn.
- Đối đáp với Dược Sơn: Khi Dược Sơn hỏi về việc “không thọ giới cũng khỏi sanh tử”, Sư đã thể hiện khí chất đặc biệt, khẳng định không cần xem kinh hay thưa hỏi mà vẫn biết.
Thiền sư Vô Học (Thúy Vi)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Đơn Hà.
- Koan “Thầy chư Phật”: Khi hỏi Đơn Hà “Thế nào là thầy chư Phật?” Đơn Hà mắng “Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?” Sư lùi ba bước, rồi tiến ba bước, đều bị mắng “lầm”, cuối cùng Sư xoay thân bỏ đi, Đơn Hà nói “Được tức được, cô phụ chư Phật khác.”
Thiền sư Nghĩa Trung (Tam Bình)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Thạch Củng và Đại Điên. Nổi tiếng với việc dùng hình ảnh “mũi tên cứu người” để giáo hóa.
- Giáo hóa: Sư dạy “Tương đương nhãn mục chính mình có chăng? Chẳng cầu các thứ khác, các ngươi mỗi người có việc bổn phận sao chẳng nhận ngay?”
ĐỜI THỨ TƯ SAU LỤC TỔ - PHÁI HOÀI NHƯỢNG
Thiền sư Linh Hựu (Qui Sơn)
- Thời gian: (771 - 853)
- Đệ tử xuất sắc của Bá Trượng. Người sáng lập tông Qui Ngưỡng. Trụ trì núi Qui Sơn, có đến hơn ngàn đệ tử.
- Koan “Lửa trong lò”: Khi Bá Trượng hỏi có lửa trong lò không, Sư đáp không. Bá Trượng vạch sâu hơn và tìm thấy lửa, chỉ vào Sư và nói “Ngươi bảo không, cái này là cái gì?” Sư liền phát ngộ.
- Koan “Làm con trâu dưới núi”: Sắp thị tịch, Sư nói sẽ làm con trâu dưới núi, hông có chữ “Qui Sơn Tăng Linh Hựu”, rồi hỏi đó là tăng hay trâu, phá chấp vào danh tướng.
Thiền sư Hy Vận (Hoàng Bá)
- Thời gian: (? - 850)
- Đệ tử của Bá Trượng, nổi tiếng với phong cách giáo hóa dữ dội, dùng tiếng quát và gậy đánh.
- Koan “Đại trùng”: Khi Bá Trượng hỏi Sư có thấy đại trùng không, Sư rống tiếng cọp, Bá Trượng cầm búa, Sư vỗ chân Bá Trượng. Bá Trượng ấn khả.
- Giáo hóa Lâm Tế: Ba lần Lâm Tế hỏi “Thế nào là đại ý Phật pháp?” đều bị Sư đánh một gậy, nhưng chính nhờ đó mà Lâm Tế ngộ đạo sau này.
Thiền sư Đại An
- Thời gian: (? - 883)
- Đệ tử của Bá Trượng, sau phò tá và kế nghiệp Linh Hựu ở Qui Sơn.
- Giác ngộ: Khi được Bá Trượng chỉ dạy về “cưỡi trâu tìm trâu” và “chăn trâu cầm roi dòm chừng không cho nó ăn lúa mạ của người”, Sư liền ngộ.
- Giáo hóa: Sư dạy “Nếu muốn làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn?”
Thiền sư Thần Tán
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Bá Trượng.
- Koan “Phật tuy chẳng thánh vẫn hay phóng quang”: Khi Sư đánh vào lưng bổn sư đang tắm, nói “Chỗ điện Phật đẹp mà Phật chẳng thánh”, bổn sư quay lại, Sư nói “Phật tuy chẳng thánh vẫn hay phóng quang”, khiến bổn sư cảm ngộ.
- Koan “Con ong chui đầu vào giấy”: Sư dùng hình ảnh con ong chui đầu vào giấy cửa sổ tìm đường ra để chỉ trích những người tu hành ôm chấp, không chịu thoát ra khỏi chấp trước nhỏ hẹp.
Thiền sư Vô Ngôn Thông
- Thời gian: (? - 826)
- Đệ tử của Bá Trượng, sau sang An Nam (Việt Nam) và sáng lập Thiền phái Vô Ngôn Thông.
- Giác ngộ: Khi được Bá Trượng khai thị “Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu”, Sư hoát nhiên đại ngộ.
- Hành động đặc biệt: Ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng (Bắc Ninh), Sư ngồi xây mặt vào vách suốt mấy năm, không ai biết, chỉ có trụ trì Cảm Thành nhận ra là cao tăng đắc đạo.
Thiền sư Hoằng Biện
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Chương Kỉnh Hoài Uẩn. Nổi tiếng với đối đáp cùng vua Đường Tuyên Tông.
- Đối đáp với vua Tuyên Tông: Giải thích cặn kẽ về sự khác biệt “Nam đốn, Bắc tiệm” không phải do Thiền tông sẵn có. Giải thích về giới, định, tuệ, phương tiện, Phật tâm, niệm Phật, đốn ngộ và tiệm tu.
Thiền sư Trí Chơn
- Thời gian: (782 - 865)
- Đệ tử của Hoài Uẩn. Từng bị ép hoàn tục trong thời Võ Tôn phế Phật.
- Bài kệ khi hoàn tục: Thể hiện tinh thần vô ngại, rằng tu đạo không phân biệt tại gia hay xuất gia, quan trọng là bản tâm.
Thiền sư Cảnh Sầm (Trường Sa)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Nam Tuyền. Không trụ ở một chỗ nhất định, tùy duyên giáo hóa.
- Giáo hóa: Sư dạy “Tột mười phương thế giới là mắt của Sa-môn, tột mười phương thế giới là thân của Sa-môn, tột mười phương thế giới là ánh sáng của mình…”
- Koan “Trăm trượng đầu sào”: Khai thị cho Hòa thượng Hiệp về sự cần thiết phải vượt qua cả đỉnh cao nhất của sự tu tập.
Thiền sư Tùng Thẩm (Triệu Châu)
- Thời gian: (778 - 897)
- Đệ tử của Nam Tuyền, ngộ lý “tâm bình thường là đạo”. Nổi tiếng với nhiều koan độc đáo.
- Koan “Chó có Phật tánh không?”: Có lúc đáp “Không”, có lúc đáp “Có”, tùy theo chấp trước của người hỏi.
- Koan “Uống trà đi!”: Khi Tăng đến hỏi, dù đã từng đến hay chưa, Sư đều bảo “Uống trà đi!” để phá mọi phân biệt.
- Hành động đặc biệt: Từng dùng một cái giường dây gãy để làm nơi trụ trì trong hơn 40 năm, không nhận giường mới, không biên thư cho thí chủ, thể hiện sự kham khổ, vô cầu.
Thiền sư Sùng Tín (Long Đàm)
- Thời gian: Không rõ
- Đệ tử của Đạo Ngộ. Ban đầu là người bán bánh, sau khi được Đạo Ngộ khai thị về việc trả lại bánh (“Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?”), Sư liền xin xuất gia.
- Giác ngộ: Khi Sư hỏi về tâm yếu, Đạo Ngộ nói “Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?” Sư khai ngộ, và được dạy “Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.”